I. KHÁI QUÁT CHUNG
1. Tên nước: Đại Hàn Dân Quốc (Hàn Quốc).
2. Thủ đô: Seoul (Xơ-un).
3. Ngày Quốc khánh: Hàn Quốc có 2 ngày Quốc khánh là:
- Ngày 03/10 là Ngày Lập quốc, còn gọi là Lễ Khai thiên (03/10/2333 trước Công nguyên). Cơ quan đại diện của Hàn Quốc ở nước ngoài tổ chức chiêu đãi vào ngày này.
- Ngày 15/8 kỷ niệm 2 sự kiện: ngày 15/8/1945 là kỷ niệm Bán đảo Triều Tiên thoát khỏi sự chiếm đóng của Nhật Bản (còn gọi là ngày Quang Phục) và ngày 15/8/1948 thành lập Chính phủ Đại Hàn Dân Quốc. Vào ngày này, Hàn Quốc tổ chức mit tinh kỷ niệm long trọng. Tổng thống đọc diễn văn; lãnh đạo các nước gửi điện mừng Quốc khánh.
4. Vị trí địa lý: Ở phía Nam Bán đảo Triều Tiên; Đông, Tây, Nam giáp biển; Bắc giáp Triều Tiên qua giới tuyến quân sự chạy dọc vĩ tuyến 38o Bắc.
5. Diện tích: 100.364 km2.
6. Khí hậu: Ôn đới lạnh với 04 mùa xuân, hạ, thu, đông rõ rệt.
7. Dân số: 51,61 triệu người (2025).
8. Dân tộc: 01 dân tộc là dân tộc Hàn. Hàn Quốc đang chuyển dần từ một đất nước chỉ có một dân tộc, một ngôn ngữ sang xã hội “đa dân tộc, đa văn hóa” (người gốc Trung Quốc: 1,7%, người gốc Việt Nam: 0,4%, người gốc Thái Lan: 0,35%, người gốc Mỹ: 0,28%).
9. Ngôn ngữ: Tiếng Hàn, chữ viết Hangeul
10. Đơn vị tiền tệ: Won (Uôn).
11. Tôn giáo: Phật giáo (30,6%), Tin lành (49,3%), Thiên chúa giáo (18,7%), Nho giáo (1%)…
12. Chế độ chính trị: Hiến pháp Hàn Quốc ban hành lần đầu tiên ngày 17/7/1948 quy định Hàn Quốc theo chế độ Cộng hoà, tam quyền phân lập. Quốc hội và Tổng thống do dân bầu trực tiếp, Thủ tướng và Chánh án Toà án nhân dân do Tổng thống đề cử và Quốc hội thông qua (trong vòng 20 ngày).
13. Lãnh đạo chủ chốt:
- Tổng thống: Ông Li Che Miêng (Lee Jae Myung), thuộc Đảng Dân chủ Đồng hành, đắc cử Tổng thống Hàn Quốc vào ngày 03/6/2025.
- Thủ tướng: Ông Kim Min Sớc (Kim Min Seok), từ tháng 7/2025.
- Chủ tịch Quốc hội: Ông U Uân Síc (Woo Won-shik), từ tháng 06/2024.
- Bộ trưởng Ngoại giao: Ông Chô Hiên (Cho Hyun), từ tháng 07/2025.
II. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
- Chính quyền Tổng thống Lee Jae Myung công bố Kế hoạch điều hành quốc gia 5 năm với Tầm nhìn quốc gia được xác định là “Đất nước nơi người dân làm chủ, Đại Hàn Dân Quốc cùng nhau hạnh phúc”. Ba nguyên tắc chính của điều hành quốc gia bao gồm: lắng nghe và hòa hợp; công bằng và tin cậy; thực dụng và hiệu quả. Năm mục tiêu trọng tâm của điều hành quốc gia gồm: (i) chính trị đoàn kết toàn dân, (ii) kinh tế sáng tạo dẫn dắt thế giới, (iii) tăng trưởng cân bằng để mọi người dân đều có cuộc sống tốt đẹp, (iv) xã hội có nền tảng vững chắc, (v) ngoại giao an ninh lấy lợi ích quốc gia làm trung tâm.
- Hàn Quốc là nền kinh tế thứ 4 châu Á và thứ 12 thế giới trong năm 2025. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc năm 2025 đạt 1%, chỉ bằng một nửa so với năm 2024 (2%); kim ngạch xuất khẩu Hàn Quốc năm 2025 vượt qua mức cao kỷ lục được ghi nhận vào năm 2024, đạt 709,7 tỷ USD, tăng 3,8% so với năm 2024; kim ngạch nhập khẩu năm 2025 đạt 631,7 tỷ USD, giảm 0,02% so với năm 2024; cán cân thương mại thặng dư 78 tỷ USD. Hàn Quốc công bố Chiến lược tăng trưởng kinh tế năm 2026 với nội dung chính là đẩy mạnh phát triển trí tuệ nhân tạo và bồi dưỡng các động lực tăng trưởng mới, song song với lĩnh vực chủ lực là chíp bán dẫn; tập trung bồi dưỡng ngành công nghiệp có năng lực cạnh tranh cao như công nghiệp quốc phòng, sinh học và văn hóa. Hàn Quốc đã ký 22 FTA với 59 quốc gia, trong đó có nhiều đối tác quan trọng (Mỹ, Trung Quốc, EU, ASEAN...).
- “Kỳ tích sông Hàn” là quá trình phát triển kinh tế của Hàn Quốc được Tổng thống Park Chung Hee khởi xướng, kéo dài từ sau Chiến tranh Triều Tiên tới trước thời kì Khủng hoảng kinh tế Châu Á (1997). Trong thời gian này, Hàn Quốc áp dụng chiến lược “Phát triển kinh tế định hướng đối ngoại” nhằm chuyển đổi hoàn toàn của nền kinh tế quốc gia thông qua xuất khẩu. Phong trào “Làng mới” (Saemaul) là mô hình phát triển nông thôn điển hình góp phần vào “Kỳ tích sông Hàn”; được Tổng thống Park Chung Hee khởi xướng vào thập niên 70. Mô hình được triển khai trên toàn quốc, chủ yếu dựa vào ngân sách và lực lượng lao động địa phương.
III. CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI
Hàn Quốc nhấn mạnh theo đuổi đường lối đối ngoại đặt trọng tâm vào lợi ích quốc gia; củng cố quan hệ với 4 cường quốc quanh Bán đảo Triều Tiên trên cơ sở quan hệ đồng minh Hàn - Mỹ và hợp tác Hàn - Mỹ - Nhật; thúc đẩy mở rộng ngoại giao với các quốc gia Nam bán cầu, tăng cường hợp tác thực chất với khu vực ASEAN, Trung Đông, xây dựng chiến lược hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) trung và dài hạn, tăng cường hệ thống bảo hộ công dân ở nước ngoài và hỗ trợ kiều bào. Với ASEAN, Hàn Quốc đề xuất sáng kiến nhằm tăng cường quan hệ đối tác chiến lược toàn diện (Tầm nhìn CPS) tập trung vào ba trụ cột: “Đóng góp cho ước mơ và hy vọng; Bàn đạp cho tăng trưởng và đổi mới; Đối tác vì hòa bình và ổn định”. Đối với khu vực Trung Đông, Hàn Quốc công bố “Sáng kiến SHINE”, bao trùm ba lĩnh vực hòa bình, thịnh vượng và văn hóa, nhằm mở ra tương lai cùng phát triển giữa Trung Đông và Hàn Quốc. Trên phương diện đa phương, Hàn Quốc tích cực tham gia vào các vấn đề toàn cầu thông qua G20 và G7. Năm 2025, Hàn Quốc tổ chức thành công Hội nghị cấp cao APEC tại Gyeongju (10/2025) và dự kiến sẽ giữ chức Chủ tịch Nhóm 20 nền kinh tế lớn (G20) vào năm 2028.
Về quan hệ liên Triều, chính quyền Tổng thống Lee Jae Myung chủ trương chuyển từ cách tiếp cận đối đầu sang hòa giải và hợp tác, thúc đẩy nối lại đối thoại liên Triều; công bố sáng kiến END xoay quanh ba trụ cột “trao đổi” (Exchange), “bình thường hóa” (Normalization) và “phi hạt nhân hóa” (Denuclearization) trên cơ sở ba nguyên tắc: tôn trọng thể chế của đối phương, không theo đuổi thống nhất theo hình thức sáp nhập thể chế, và không tiến hành các hành vi thù địch nhằm chấm dứt đối đầu và mở ra kỷ nguyên hòa bình mới trên Bán đảo Triều Tiên. Đối với vấn đề phi hạt nhân hóa, Tổng thống Lee Jae Myung kêu gọi sự hợp tác của cộng đồng quốc tế đối với giải pháp phi hạt nhân hóa ba giai đoạn “Tạm dừng - Thu hẹp - Giải trừ”. Chính phủ Hàn Quốc chủ trương thúc đẩy đối thoại liên Triều song song với đàm phán Mỹ - Triều, đồng thời hướng tới khôi phục các khuôn khổ hợp tác đa phương như đàm phán 4 bên hoặc 6 bên nhằm củng cố hòa bình và hợp tác trong khu vực Đông Bắc Á.
IV. QUAN HỆ VIỆT NAM - HÀN QUỐC
1. Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao: 22/12/1992
2. Những mốc lớn trong quá trình phát triển quan hệ:
- Ngày 20/4/1992, ký thỏa thuận trao đổi Văn phòng liên lạc giữa hai nước.
- Ngày 22/12/1992, ký Tuyên bố chung thiết lập quan hệ ngoại giao cấp Đại sứ; Hàn Quốc mở Đại sứ quán tại Hà Nội.
- Tháng 3/1993, Việt Nam mở Đại sứ quán tại Seoul.
- Tháng 11/1993, Hàn Quốc mở Tổng Lãnh sự quán tại TP. Hồ Chí Minh.
- Tháng 8/2001, hai nước ra tuyên bố chung về “Quan hệ đối tác toàn diện thế kỷ 21” nhân chuyến thăm Hàn Quốc của Chủ tịch nước Trần Đức Lương.
- Tháng 10/2009, quan hệ hai nước được nâng cấp lên “Đối tác hợp tác chiến lược” nhân chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Hàn Quốc Lee Myung-bak.
- Tháng 12/2022 thiết lập khuôn khổ quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện nhân chuyến thăm cấp Nhà nước tới Hàn Quốc của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc.
- Tháng 6/2025, Việt Nam mở Tổng lãnh sự quán tại Busan, Hàn Quốc.
3. Tình hình quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc hiện nay:
Về chính trị: Hai bên duy trì tốt quan hệ trên tất cả các kênh Đảng, Chính phủ, Quốc hội. Giao lưu cấp cao tiếp tục được duy trì bằng nhiều hình thức linh hoạt, qua đó không ngừng củng cố lòng tin chính trị. Các đoàn Hàn Quốc vào Việt Nam: Tổng thống Hàn Quốc thăm Việt Nam 10 lần; Thủ tướng thăm 4 lần; Chủ tịch Quốc hội thăm 12 lần. Các đoàn ta thăm Hàn Quốc: Tổng Bí thư ta thăm Hàn Quốc vào tháng 4/1995, tháng 11/2007, tháng 10/2014 và tháng 8/2025. Chủ tịch nước ta thăm Hàn Quốc vào tháng 8/2001, tháng 11/2011, tháng 12/2022 và tháng 11/2025. Thủ tướng Chính phủ ta thăm Hàn Quốc 8 lần. Chủ tịch Quốc hội ta thăm Hàn Quốc 6 lần. Đảng ta đã thiết lập quan hệ với Đảng cầm quyền Dân chủ Đồng hành, Đảng Sức mạnh Quốc dân và các đảng khác ở Hàn Quốc.
Về quốc phòng, an ninh, được đẩy mạnh, trao đổi đoàn và các cơ chế đối thoại được triển khai thường xuyên, trong đó có Đối thoại chính sách quốc phòng cấp Thứ trưởng, Đối thoại an ninh cấp Thứ trưởng, Đối thoại chiến lược ngoại giao - an ninh - quốc phòng cấp Thứ trưởng. Bộ Công an Việt Nam đã tiếp nhận 02 tàu tuần tra biển, 02 xuồng cao tốc và 02 mô tô nước đã qua sử dụng của Hàn Quốc; Bộ Quốc phòng Việt Nam đã tiếp nhận 03 tàu hải quân đã qua sử dụng của Hàn Quốc (gần đây nhất là Tàu hải quân Che-chơn).
Về hợp tác kinh tế:
- Về thương mại, trong năm 2025, kim ngạch thương mại song phương Việt Nam - Hàn Quốc đạt 89,5 tỷ USD, tăng 9,6% so với năm 2024; trong đó xuất khẩu của Việt Nam tới Hàn Quốc đạt 28,9 tỷ USD (tăng 12,7%), nhập khẩu từ Hàn Quốc đạt 60,5 tỷ USD (tăng 8,1%); nhập siêu của Việt Nam từ Hàn Quốc có giá trị 31,6 tỷ USD, tăng 4,3%. Việt Nam chủ yếu xuất khẩu các mặt hàng sản xuất của doanh nghiệp FDI (điện thoại và linh kiện, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện). Ngược lại, Hàn Quốc cung cấp linh kiện, phụ kiện, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu sản xuất. Hai bên hiện đang trao đổi các biện pháp cụ thể triển khai “Kế hoạch hành động thực hiện mục tiêu kim ngạch thương mại 150 tỷ theo hướng cân bằng hơn vào năm 2030”.
- Về đầu tư, tính lũy kế đến hết năm 2025, Hàn Quốc tiếp tục là nhà đầu tư lớn nhất của Việt Nam trong tổng số 148 quốc gia đầu tư với tổng vốn đăng ký đạt 94,6 tỷ USD, với 10.379 dự án, chiếm hơn 23% tổng số dự án và 18% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký vào Việt Nam, tập trung vào các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế Việt Nam như công nghiệp chế biến chế tạo, công nghệ cao, điện tử, ô tô và phụ tùng ô tô, xây dựng, bất động sản...
- Về hợp tác phát triển (ODA), Việt Nam tiếp tục là đối tác ưu tiên hàng đầu của Hàn Quốc cung cấp vốn ODA (nhận khoảng 20% tổng viện trợ của Hàn Quốc). Tổng viện trợ của Hàn Quốc dành cho Việt Nam trong 05 năm gần đây đạt hơn 500 triệu đô la Mỹ trong đó 90% là vốn vay ODA và 10% là viện trợ không hoàn lại. Về vốn vay ODA, Chính phủ Hàn Quốc cung cấp vốn vay ODA cho Việt Nam thông qua Quỹ Hợp tác phát triển kinh tế (EDCF) thuộc Ngân hàng Xuất nhập khẩu Hàn Quốc (KEXIM). Tháng 6/2023, hai bên đã ký Thỏa thuận hợp tác Quỹ Xúc tiến kinh tế Hàn Quốc (EDPF) trị giá 02 tỷ USD để triển khai các dự án đầu tư phát triển hạ tầng giao thông, hạ tầng đô thị của Việt Nam.
Về hợp tác lao động: Hai bên ký kết Bản ghi nhớ hợp tác về phái cử và tiếp nhận lao động Việt Nam sang làm việc tại Hàn Quốc theo Chương trình cấp phép việc làm cho lao động nước ngoài của Hàn Quốc (EPS) vào tháng 6/2023 và gia hạn giai đoạn mới từ tháng 8/2025. Theo Cục Xuất nhập cảnh Hàn Quốc, tính đến hết năm 2025, có gần 45.000 lao động của ta được Hàn Quốc tiếp nhận theo Chương trình EPS, ngoài ra có 28.500 lao động thời vụ, 14.700 lao động tay nghề.
Về hợp tác khoa học công nghệ: hai bên duy trì cơ chế họp Ủy ban hỗn hợp về hợp tác KH&CN Việt Nam - Hàn Quốc cấp Bộ trưởng. Hai bên đang tích cực hợp tác để tiếp tục triển khai dự án Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Hàn Quốc (VKIST) giai đoạn 2. Các tập đoàn lớn công nghệ cao của HQ cũng đầu tư vào Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia (NIC) như SK tài trợ vốn và chương trình nghiên cứu cho doanh nghiệp Việt Nam, Samsung thành lập phòng nghiên cứu Samsung Innovation Campus...
Về hợp tác du lịch: trong năm 2025, Hàn Quốc là thị trường cung cấp khách du lịch lớn thứ hai của Việt Nam với 4,3 triệu lượt du khách, chiếm 21% tổng số du khách nước ngoài đến Việt Nam.
Về giao lưu nhân dân: Tính đến hết năm 2025, có khoảng 352.000 người Việt Nam ở Hàn Quốc, tăng 30.000 người so với cùng kỳ năm 2024; trên 100.000 du học sinh và 100.000 lao động; khoảng 100.000 gia đình đa văn hóa Việt - Hàn, số còn lại theo diện hợp tác đầu tư, thăm thân, làm việc ngắn hạn... Hậu duệ dòng họ Lý Hoa Sơn và Lý Tinh Thiện ước khoảng 1000 người; có khoảng 200.000 người Hàn Quốc đang sinh sống, kinh doanh tại Việt Nam, trong đó có khoảng 10.000 doanh nghiệp./.
Tháng 02/2026